Cây nhỡ, cao 2-4m, cành nhánh màu đen nhạt đơn, nguyên mọc so le, có hình dạng thay đổi, hình trái xoan hình bầu dục hay hình trứng ngược; phiến lá rất mỏng, dài 1,5-3cm, rộng 6-12mm, mặt trên sẫm màu hơn mặt dưới; lá kèm hình tam giác hẹp. Hoa mọc ở nách lá, riêng lẻ hay xếp 2,3 cái một. Quả hình cầu, khi chín màu đen.
Ra hoa quả hàng năm, mùa hoa thường từ tháng 3–5, quả chín tháng 6–8. Cây ưa sáng hoặc chịu bóng nhẹ, mọc khỏe trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo dinh dưỡng. Tái sinh chủ yếu bằng hạt, sinh trưởng nhanh.
Rộng rãi ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên ở nhiều tỉnh từ Bắc vào Nam, thường gặp ở ven rừng, bờ ruộng, hàng rào, đất hoang.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Phèn đen mọc tự nhiên phổ biến ven đường, trảng cây bụi ở Núi Luốt.
Rễ Phèn đen được dùng trị lỵ, viêm ruột, viêm gan, viêm thận và trẻ em cam tích. Lá thường dùng chữa sốt, lỵ, phù thũng, ứ huyết do đòn ngã, huyết nhiệt sinh đinh nhọt, còn dùng chữa bị thuốc độc mặt xám da vàng và rắn cắn. Vỏ thân dùng chữa lên đậu có mủ và tiểu tiện khó khăn.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn