Cây gỗ lớn, cao trên 30m, đường kính có thể tới 120cm. Thân thẳng tròn, gốc có bạnh nhỏ. Tán xoè rộng. Vỏ màu nâu có nhiều nốt sần màu nâu nhạt, sau bong mảng hoặc vảy lớn, lớp vỏ trong màu nâu đỏ. Cây mọc lẻ thường phân cành thấp, cành non màu xanh lục. Lá kép lông chim 2 lần, mọc cách, có 3–4 đôi cuống cấp 2, mỗi cuống mang 9–13 lá chét mọc cách; lá chét hình trái xoan hoặc trứng trái xoan; đầu có mũi nhọn, đuôi gần tròn dài 4,5–6cm, rộng 3–3,5cm, hai mặt lá nhẵn bóng. Gân lá nổi rõ ở cả hai mặt.
Hoa tự hình chùm kép, mỗi cụm dài 20–30cm. Hoa lưỡng tính gam đều; đài 5 cánh hợp hình chuông; tràng màu xanh vàng 5 cánh hẹp và dài; nhị 10, chỉ nhị rời; bầu phủ nhiều lông. Quả đậu hình trái xoan thuôn, dài 20–25cm, rộng 3,5–4cm. Hạt dẹt màu nâu đen, xếp lợp lên nhau, vỏ hạt cứng, dây rốn dày và to gắn bằng hạt.
Cây mọc chậm, tốc độ thay đổi theo từng giai đoạn tuổi và vùng phân bố. Tăng trưởng trung bình 10 năm đầu 0,5–0,7m về chiều cao và 0,5–0,7cm về đường kính trong 1 năm, sau đó có thể mọc nhanh hơn.
Mùa ra hoa tháng 3–5, quả chín tháng 10–11. Cây ưa sáng nhưng khi còn nhỏ chịu bóng. Mọc tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới mùa mưa có nơi có nhiệt độ trung bình năm 22,4°–24,1°C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 42,5°C, thấp nhất tuyệt đối –1,4°C. Lượng mưa trung bình hàng năm 1500–2859mm. Năm có 3–9 tháng khô. Lim xanh phân bố nơi đất sét hoặc sét pha [sâu dày], mọc nhiều và tốt ở độ cao 300m trở xuống. Cây có khả năng tái sinh hạt và chồi tốt.
Lim xanh là loài cây đặc hữu của Việt Nam, phạm vi phân bố từ biên giới Việt Nam – Trung Quốc đến Đà Nẵng, Khánh Hòa; tập trung ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Lim xanh được trồng rừng tại Núi Luốt với diện tích lớn.
Giác gỗ màu xám vàng nhạt khá dày, lõi màu xanh vàng sau nâu sẫm, đậm, có vân đẹp, khá nặng, và chịu được ngoài mưa nắng. Giác dễ bị mối mọt. Có thể dùng gỗ Lim để xây dựng các công trình lớn, làm nhà, đóng tàu, đóng bàn ghế, làm tà vẹt. Vỏ chứa nhiều chất chát dùng để nhuộm.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn