Gỗ màu nâu đỏ, có vân hơi xoắn, kết cấu mịn, nặng. Có thể dùng để làm nhà, đóng đồ, làm củi.
Cây gỗ nhỏ, cao 15-20 m, đường kính có thể tới 30 cm. Vỏ màu vàng nâu, bong mảng nhỏ loang lổ, vết vỏ đẽo phớt hồng chảy nhựa vàng. Cành mọc gần đối, cành non nâu đỏ, sống nơi khô hạn, một số cành gần gốc ở dạng gai phân nhánh. Lá đơn mọc đối, không có lá kèm, lá hình trái xoan dài hoặc trứng dài, đầu và đuôi nhọn dần, dài 5-6 cm, rộng 3 cm, lá nhẵn gân bên 10 đôi. Cuống lá 2-3 mm. Hoa lưỡng tính, hoa tự 2-4 hoa ở nách lá hoặc đầu cành nhỏ, đôi khi hoa mọc đơn lẻ ở nách lá.
Cánh đài 5, dài 6-7 mm. Cánh tràng 5 hình dải dài 9 mm màu tím hồng. Nhị nhiều hợp thành 3 bó, có 3 tuyến hình mũ xen giữa các bó nhị. Bầu hình nón, vòi nhuỵ 3. Quả nang hình trứng trái xoan, cao 12 mm, cánh đài sống dai bọc đến 1/3 quả. Hạt có cánh mỏng.
Mùa hoa tháng 4-5, quả chín tháng 8-9. Cây mọc chậm, rụng lá mùa khô. Cây ưa sáng, chịu hạn mọc được trên đất đồi trọc khô chua. Tái sinh hạt và chồi mạnh sau nương rẫy, thường là loài cây tiên phong ưu thế trên rừng đang phục hồi.
Phân bố rộng ở các nước Đông Nam Á, là cây rất thường gặp ở các tỉnh từ Bắc đến Nam Việt Nam.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp Thành ngạnh tái sinh tự nhiên và được trồng ở rừng Núi Luốt.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn