Cây gỗ lớn, cao trên 30m, đường kính có thể tới 100cm. Thân thẳng. Vỏ màu xám tro, nhiều đốm dài vòng quanh thân. Cây lớn vỏ nứt dọc, sau bong mảng, vỏ trong màu nâu đỏ. Cành già mầu nâu sẫm, cành non phủ lông hung vàng, sẹo lá rụng trên cành rõ. Cành xếp thành tầng.Lá kép lôgn chim 1 lần chẵn, mọc cách mang 10-18 lá chét. Lá chét mọc gần đối hoặc mọc cách, hình trái xoan dài, lệch, dài 10-12cm, rộng 5-6cm. Đôi khi lá non xẻ thuỳ làm thành lá kép lông chim 2 lần giả. Gân lá lõm ở mặt trên, nổi rõ ở mặt dưới, nách gân có túm lông.Hoa tự xim viên chùy ở đầu cành. Hoa đều lưỡng tính, dài 1,5cm. Đài hình đĩa, phía ngoài phủ lông hình sao. Cánh tràng 5, màu vàng nhạt phớt tím. Nhị 10, hợp thành ống hình trụ, bao phấn đính ở mép ống. Bầu 3 ô, phía ngoài phủ lông dài, mỗi ô 20-40 noãn đính thành 2 tầng.Quả nang hoá gỗ hình trái xoan, đường kính 3-3,5cm khi chín màu nâu đen. Hạt dẹt hình quạt, có cánh mỏng, xếp chồng chất ngang trong từng ô quả.
Cây mọc tương dodói nhanh, nơi điều kiện sống thích hợp tăng trưởng chiều cao có thể đạt 1m/năm, đường kính có thể đạt 2cm/năm.Mùa hoa tháng 6-7, quả chín tháng 10-2 năm sau. Thường rụng lá vào cuối đông đầu xuân.Cây ưa sáng, lúc nhỏ chịu bóng. Phân bố tự nhiên ở vùng có nhiệt độ bình quân năm 18-24 độ C, lượng mưa năm 1200-2000mm và trên đất feralit phát triển trên đá mẹ granit, đá vôi. Ưa đất tơi xốp, ẩm nhiều mùn.Có khả năng tái sinh hạt tốt dưới độ tàn che cao.
Phân bố rộng trong rừng tự nhiên nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở Việt Nam lát hoa phân bố từ Hà Tĩnh trở ra Bắc. Tại Phú Thọ loài này phân bố ở rừng quốc gia Đền Hùng.
Gỗ có giác màu hồng nhạt, lõi nâu hồng, có ánh vân đẹp. Gỗ có độ cứng và nặng trung bình, dễ làm, ít co dãn, không bị mối mọt, thường dùng đóng đồ đạc quý, làm gỗ dán lạng, trang sức bề mặt.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn