Cây bụi, cao 1-2 m. Cành non có lông tơ màu xám. Lá mọc đối; cuống lá 4-7 mm; phiến lá hình elip đến trứng ngược, 3-8 × 1-4 cm, dai, có lông khi còn non nhưng nhẵn và bóng khi già, gốc lá hình nêm rộng, đầu lá tròn đến tù và thường hơi khía hoặc đôi khi hơi có chóp. Hoa 1(-3), có đầu nhọn, đường kính 2-4 cm. Đế hoa hình trứng ngược, có lông tơ màu xám. Đài hoa 5 thùy, gần tròn. Cánh hoa 5, màu tím, hình trứng ngược. Nhị hoa nhiều, màu đỏ. Bầu nhụy 3 (hoặc 4) ngăn. Vòi nhụy dài khoảng 1 cm. Quả mọng màu tím đen khi trưởng thành, hình trái xoan, 1,5-2 × 1-1,5 cm.
Mùa hoa, quả từ tháng 4 đến tháng 6.
Sim có nguồn gốc bản địa ở khu vực Nam và Đông Nam châu Á. Cụ thể, loài này phân bố rộng rãi từ Ấn Độ và Sri Lanka, phía Đông đến Miền Nam Trung Quốc, Đài Loan, Philippines và tới Malaysia và Sulawesi. Ở Việt Nam, Sim là loài cây quen thuộc xuất hiện ở khắp mọi nơi, tập trung nhiều ở các vùng đồi và núi thấp.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Sim được trồng trong Khuôn viên của Trường (Khu vực Quảng trường sinh viên).
Có giá trị đa dạng trong y học cổ truyền, thực phẩm và bảo tồn. Ngoài ra, trái sim còn được sử dụng để làm thực phẩm, như rượu sim và mứt sim và có giá trị kinh tế cao.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn