Cây gỗ, cao tới 10 m. Thân rất ngắn, phân nhánh rộng. Cuống lá dài 5-10 mm. Phiến lá hình mác, hình trứng-hình mác, thuôn dài hoặc hình thẳng, 8-26 × 2-4,5 cm, dai hoặc cứng như giấy, cả hai mặt đều có nhiều tuyến nhỏ trong suốt, gân thứ cấp 8-25 ở mỗi bên gân giữa, cách nhau 0,7-1,5 cm và nổi rõ ở mặt dưới lá, gốc hẹp đến hình nêm rộng, đỉnh nhọn đến nhọn dài. Cụm hoa thường là xim ở đầu cành với một số hoa, đôi khi ở nách lá và đơn độc; cuống hoa dài 1-3,5 cm. Hoa màu trắng hoặc hồng, đường kính 3-4 cm. Đế hoa 0,8-1,5 cm. Đài hoa 4, bán cầu hoặc hình tam giác-hình trứng, 5-8 × 6-9 mm. Cánh hoa riêng biệt, hình trứng rộng, 1,4-1,5 cm. Nhị hoa 1,5-2,8 cm. Quả màu vàng nhạt hoặc đỏ khi chín, hình cầu hoặc hình elip, đường kính 2,5-5 cm. Quả mang 1 hoặc 2 hạt, vỏ quả mềm.
Mùa hoa: tháng 4-5; mùa quả: tháng 7-8.
Nguồn gốc của loài chưa chắc chắn nhưng có thể là Tây Malesia và Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây thường mọc ở những nơi ẩm, ven suối, khá phổ biến từ Bắc vào Nam.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Roi rừng được tìm thấy (tự nhiên) tại Khu rừng thực nghiệm Núi Luốt.
Gỗ dùng trong xây dựng, đồ dùng thông thường trong gia đình. Quả ăn được.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn