Cây bụi trườn, sống dựa trên cây gỗ hay cây bụi khác, thân non hơi vuông cạnh, Cành mảnh vươn dài. Lá đơn mọc đối; hình bầu dục-mũi mác, dài 4 - 7,5 cm, rộng 2 - 4,5 cm, đầu thuôn thành mũi nhọn, gốc tròn, các lá phía trên hơi nhỏ hơn; hai mặt lá nhẵn, gần như cùng màu, mặt trên bóng hơn; gân gốc 3, tỏa ra từ gốc; cuống ngắn, dài 3-12 mm, nhẵn, có khớp ở phía dưới đoạn giữa. Hoa tự xim ở đầu cành, mỗi xim mang 3 đến nhiều hoa. Đài hoa hợp gốc, cánh đài 7-9, dài khoảng 1 cm. Tràng màu trắng, ống tràng hẹp, cao 1,6-1,8 cm, cánh tràng 7-9, xếp vặn. Quả mập, khi chín mầu tím đen, dài 0,6-0,8 cm.
Hàng năm, Vằng ra hoa và kết quả 2 lần vào tháng 5-6 và tháng 10-11; khả năng tái sinh chồi tốt. Vằng tương đối ưa sáng, thường bò leo trên cây bụi, cây nhỏ ở bìa rừng, trảng cây bụi hoặc dưới tán rừng thưa. Hoa quả thường chỉ xuất hiện nhiều trên các cây chè vằng vươn lên ngọn cây gỗ và được ánh sáng chiếu đầy đủ. Cây tái sinh tốt từ hạt và chồi; quanh gốc cây mẹ thường gặp nhiều cây con tái sinh.
Thế giới: Chè vằng phân bố nhiều ở các nước vùng Đông Nam và Nam Á như Ấn Độ, Myanmar, Lào, Campuchia. Cũng gặp cây mọc hoang ở các vùng phía Nam Trung Quốc và đảo Hải NamTrung Quốc và đảo Hải Nam.
Việt Nam: Chè vằng mọc hoang ở vùng rừng núi, trung du và cả đồng bằng. Cây phân bố rộng từ Bắc vào Nam nhưng gặp nhiều ở Nghệ An Hà Tĩnh.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp Chè vằng mọc hoang dưới tán rừng ở rừng thực nghiệm Núi Luốt.
Vằng cho thân và lá pha nước uống hàng ngày hoặc làm thuốc. Chè vằng là loại nước uống truyền thống, có tác dụng kích thích tiêu hóa và làm giảm cân. Chè vằng cũng là loài cây thuốc truyền thống của Việt Nam.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn