Cây nhỡ cao 3 - 4 (-12)m, thường xanh. Cành non hơi ráp, sau sần sùi vì có nhiều tuyến; lá kép mọc so le, gồm 5 - 13 lá chét hình trái xoan, lá chét cuối hình trứng, đầu nhọn, gốc hơi lệch, mép lá nguyên hay hơi khía tai bèo, có nhiều điểm tuyến chứa dầu. Hoa trắng mọc thành chùy thưa ở ngọn. Quả hình cầu, màu vàng, có 1 - 2 ô, chứa một hạt to
Cây ra hoa vào tháng 4 - 5, có quả tháng 6 - 8.
Loài của Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở nước ta cây mọc hoang ở Hòa Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Phú Thọ
Lá dùng trị: Cảm mạo, nhiễm lạnh và sốt. Viêm não, màng não truyền nhiễm. Sốt rét. Rễ và hạt dùng trị: Đau dạ dày, đau thượng vị, đau thoát vị, đau bụng kinh. Thấp khớp đau nhức xương.
Quả dùng trị: Tiêu hóa kém. Ho nhiều. Nhân dân còn dùng lá nấu nước gội đầu cho sạch gầu, trơn tóc và nấu nước xông chữa thấp khớp. Cũng được trồng nhiều ở miền Bắc nước ta để lấy quả ăn
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn