Cây gỗ, cao tới 35 m. Cành mang hoa tròn, vỏ có nếp nhăn, nhẵn hoặc có lỗ vỏ. Lá gồm 2-4(-5) đôi lá chét; cuống lá tròn hoặc gần tròn, phồng và hơi rỗng ở gốc, dài 1,2-7 cm, không có lông hoặc nếu có thì sớm nhẫn, có lỗ vỏ như mụn. Lá chét hình bầu dục, cỡ 8-11(-16) × 1,8-4 cm, chiều dài gấp 2-4 lần chiều rộng, chất giấy hoặc giả da, khi khô có màu nâu vàng trên cả hai mặt; chóp tù hoặc nhọn, ít khi tròn hoặc hơi có khía; gốc cân, nhọn thót dần; hai mặt lá chét nhẫn, hiếm khi có lông mịn ở mặt dưới; gân chính có rãnh hẹp ở mặt trên; gân bên 9-11 đôi, vấn hợp ở gần mép, cả hai mặt đều mờ; gân mạng hình lưới thô; cuống lá chét có khía sâu ở mặt trên, phồng hướng về gốc.
Cụm hoa dài tới 30 cm, có lông cứng. Hoa màu trắng hơi xanh hoặc vàng, thơm. Thùy đài hình tam giác, cỡ 1,5 × 2 mm, xếp van. Triền tuyến mật không hoặc có lông. Nhị 6-7(-8); chỉ nhị dài cỡ 2,5 mm, có lông từ gốc đến đỉnh; bao phấn hình bầu dục, dài cỡ 1 mm, đỉnh nhọn hoặc có khía. Bầu có cột nhụy, chia 2-3 thùy xòe ra, có nốt sần và lông dày đặc; vòi nhụy dài cỡ 1 mm.
Quả chín màu đỏ sáng hoặc đỏ tía, cuống ngắn. Thùy quả cỡ 3,5 x 3 cm hoặc lớn hơn, vỏ mỏng. Hạt hình bầu dục, cỡ 2 × 1,5 cm; vỏ hạt màu nâu hoặc hơi đen, bóng; rốn hạt ở gốc, hình tròn, đường kính 6-7 mm; áo hạt màu trắng xanh hoặc vàng nhạt, lúc còn tươi dày tới 5 mm.
Mùa hoa tháng 1-4, quả chín tháng 4-7 hàng năm. Cây trồng, ít khi mọc hoang dại, thích hợp với vùng đồi thấp, trong điều kiện thổ nhưỡng thay đổi, ở những vùng có một mùa đông ngắn và khô, không lạnh giá và có mùa hè dài nóng, độ ẩm cao, ở độ cao dưới 500 m. (Leenh. 1994: 656; Lo & T. Chen, 1985: 32).
Rải rác khắp miền Bắc và miền Trung Việt Nam, nhưng được trồng nhiều ở các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hưng Yên,... Ít khi được trồng ở miền Nam (Đồng Nai) hoặc Tây Nguyên. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, Inđônêxia, Philippin.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn