Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang (Bắc Quang), Tuyên Quang (Sơn Dương: Tân Trào), Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Kạn (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Đại Từ, Đồng Hỷ), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Phú Thọ (Thanh Sơn: Xuân Sơn), Vĩnh Phúc (Phúc Yên, Tam Đảo, Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh), Hà Nội (Ba Vì, Sơn Tây), Hòa Bình (Chỉ Nê, Đà Bắc, Vụ Bản), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Con Cuông, Vinh, Quỳ Hợp), Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế (Phú Lộc: Bạch Mã), Đà Nẵng (Đồng Tâm), Kon Tum (Kon Plông), Gia Lai (An Khê, KBang), Đắk Nông (Krông Nô: Quảng Phú), Lâm Đồng (Di Linh, Bảo Lộc), Ninh Thuận (Phan Rang-Tháp Chàm: Núi Chúa), Đồng Nai (Biên Hòa). Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia, Philippin.
Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, đôi khi cao tới 15(-25) m; vỏ màu đỏ nâu đến hơi xám; phân non và cụm hoa có lông mịn màu gi sắt, sớm rụng. Cành mang hoa có đường kính 3-9 (-12) mm, màu nâu nhạt đến đỏ nhạt, hiếm khi xám nhạt, có lỗ vỏ và mụn cơm mờ, không có lông. Lá có (1-)2-6 đôi lá chét; cuống dài 3-9 cm, tròn, không có lông, trục dài 4-15(-20) cm, tròn, không có lông. Lá chét hình trứng đến bầu dục, cỡ 7-20 × 2-6(-15) cm, chiều dài gấp 2-5(-8) lần chiều rộng, chất giấy đến giả da; chóp nhọn đến tròn hoặc có khía; gốc tròn hoặc nhọn; mặt trên không có lông; mặt dưới có lỗ tuyến ở hầu hết gốc các gân bên, không có lông; gân chính ở mặt trên tạo thành gở nhỏ có cạnh nổi lên ở rãnh hoặc chỉ tạo thành rãnh; gân bên 8-15 đôi, tạo với gân chính góc 40°-90°, vấn hợp mở ở gần mép; gân mạng hình lưới thô, mặt trên hơi nổi hoặc không nổi; cuống lá chét dài 5-8 mm, có rãnh ở mặt trên, không có lông.
Cụm hoa mọc đơn độc hoặc thành bó, dài 15-25(-35) cm, có nhiều lông, nhánh dài tới 20 cm; cụm hoa xim dài tới 1,2 cm. Lá bắc hình tam giác, cỡ 6(-8) × 1,5 mm, những lá bắc ở trục cấp 2 sớm rụng; cuống hoa dài cỡ 3,5 mm, có nhiều lông. Hoa màu trắng hoặc vàng nhạt, Lá đài 5(-6), hơi hợp (hiếm khi hợp đến 1/4), tồn tại ở quả; lá đài hình tam giác hoặc hình trứng, cỡ 0,75-2 × 1-2 mm, như chất giả da đến hơi nạc, có 1-3 gân; mặt ngoài có lông mịn; mặt trong có lông mịn ít nhất là ở gốc. Cánh hoa 0-5, không đều nhau, hình trứng đến bầu dục, kích thước thay đổi từ rất nhỏ đến cỡ 2 × 1 mm, nhẵn hoặc có lông mịn ở gốc, không có cựa, có tai, tai có khi có tua ở đầu. Triền tuyến mật nguyên hoặc có thùy không đều nhau, hiếm khi có thùy ở giữa các nhị, có lông. Nhị 7-8; chỉ nhị dài 3-4 mm, có lông rõ hoặc mờ; bao phấn dài 0,4-1,2 mm, đính gốc hoặc thinh thoảng đính lưng ở sát gốc, không có lông (1) Bộ nhụy có lông thưa đến có nhiều lông; bầu 3-4 ô, lúc tươi không tạo thành cạnh; vòi nhụy ở đỉnh, mập và ngắn; núm nhụy xẻ thùy sâu tương ứng với số ô bầu.
Quả khi chín màu đỏ, không hay hơi có thùy, thường chỉ có 1 hạt phát triển, dài 1-2(-3) cm; gốc quả kéo dài thành cuống, kích thước cỡ 2-11 × 1-2 mm; phần chứa hạt hình cầu đến bầu dục, lát cắt ngang có cạnh hoặc thủy tương ứng với số ô của bầu, đường kính 0,4-1(-1,4) cm; đỉnh quả có vòi nhụy và núm nhụy ngắn (dài 1,5 mm) tồn tại; vỏ quả mỏng, cả hai mặt không có lông, ở quả non mặt ngoài có lông măng khắp bề mặt; vách quả hoàn chỉnh ở những ô có hạt phát triển. Hạt màu nâu đậm, bóng, hình cầu hoặc bầu dục, dài 8-12 mm; rốn hạt ở gốc, tròn, cỡ 2 mm; áo hạt màu xanh nhạt, bao ít nhất một nửa hạt. Lá mầm rất lệch, cả 2 có nếp hoặc chỉ có 1 lá phía dưới (nhỏ hơn) có nếp
Mùa hoa tháng 2-5, ít khi có từ tháng 12, quả chín tháng 6-9, ít khi chín từ tháng 3-5. Mọc hoang ở rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh, nơi núi thấp, dọc mép rừng, trên đá vôi, đá granit..., ở độ cao (300-)800-2000 m. (R. W. Ham, 1994: 664; Auctors, 1996: 654).
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn