Cây gỗ thường xanh, cao 15 - 20 m, đôi khi cao 25 -30 m, đường kính 30 - 40 cm, ít khi 50 -60 cm. Vỏ ngoài nhẵn mầu xám có vết nhăn dọc, thịt vỏ mầu trắng có tơ mịn và dai, dầy 2-4 mm, rất dễ bóc vỏ. Hoa nhỏ màu vàng xanh nhạt, nở tháng 1. Quả nang hình trứng, khi chín vỏ hoá gỗ lông màu vàng xám, quả chín tháng 7. Hạt chín mầu nâu đen.
Sản phẩm chính của Trầm dó là trầm hương tích trong thân cây và được dùng làm thuốc có gia trị xuất khẩu rất cao. Gỗ Trầm dó màu vàng nhạt, mềm và nhẹ, tỷ trọng 0,39, kém chịu mục và mọt nên ít được sử dụng.
Dó bầu là loài cây trung tính, thiên về ưa sáng, mọc rải rác trong các rừng nguyên sinh và thứ sinh. Cây tái sinh dưới tàn che 0,4 - 0,6 song phải điều chỉnh, mở tán kịp thời. Cây trầm hương phân bố trong các điều kiện sinh thái khá rộng và là loài cây dễ gây trồng, thích hợp với phương thức trồng dưới tán, trồng hỗn giao và nông lâm kết hợp. Trầm hương nên được trồng trên đất tốt và đất còn mang tính chất đất rừng. Ra hoa vào tháng 4 - 5, quả chín vào tháng 7 - 8.
Dó bầu thường mọc rải rác trong các vùng rừng dọc miền Trung và các tỉnh phía Nam, xuống tận An Giang, Kiên Giang và đảo Phú Quốc. Phân bố tập trung nhất và nhiều nhất là ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Phú Thọ, Gia Lai, Kon Tum và Phú Yên. Dó bầu đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt và đáng được xếp vào loại “Nguy cấp - EN”.
Trầm dó có thể trồng ở nhiều nơi tại nước ta theo phương thức trồng cây phân tán hay trồng tập trung. Điều quan trọng khi trồng Trầm dó là phải biết dùng phương pháp thích hợp để kích thích tạo trầm. Chỉ khi tạo được trầm hương thì cây Trầm dó mới thật sự có giá trị kinh tế.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn