Cây gỗ nhỏ, cao 8-12 m, với đường kính thân ít khi đến 0,2 m. Cành non phủ đầy lông. Lá mọc cách; phiến hình trứng thuôn, dài 10-20 cm, rộng 3-3,5 cm, tròn, đôi khi không đối xứng ở gốc, thót nhọn ở đầu, mỏng, nhẵn ở mặt trên có lông ngắn ở mặt dưới, có 20-25 đôi gân, bậc hai gần như song song; cuống lá dài 3-4 mm, có lông và có cánh. Cụm hoa ở đầu cành dạng chùy thưa dài hơn lá, có lông. Cụm hoa đơn vị là tán, gồm 4 hoa không cuống, khi non được bao bởi hai lá bắc tổng bao dài 6-7 mm, có lông len.
Hoa màu trắng, lưỡng tính, thơm. Ống đài dài 1cm, hơi loe ở giữa, phủ đầy lông ở ngoài, nhẵn, ở trong mang 4 lá đài trên đầu. Lá đài hình trứng, to nhỏ không bằng nhau, dài 2 mm, có lông ở mặt ngoài. Nhị 8, xếp thành hai vòng không dài bằng nhau. Đĩa tuyến mật cao 1,5-2 mm, hình chén mỏng, mép lượn sóng. Bầu hơi có cuống, phủ đầy lông; vòi ngắn; núm to, gần hình bán cầu. Quả khô không tự nở, hình trứng, dài 7 mm; vỏ quả ngoài mỏng, phủ đầy lông màu vàng nhạt. Hạt hình thoi, dài 6mm, rộng 1,7 mm.
Mùa hoa tháng 11- 6, mùa quả chín tháng 3-10. Cây sinh bằng hạt. Thường mọc ở ven suối ẩm, nơi có ít ánh sáng, ngoài cửa rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, ở độ cao không quá 1200 m.
Thế giới: Trung Quốc. Việt Nam: Dó phân bố ở một số tỉnh Bắc Bộ đến Quảng Nam.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp Dó được trồng ở rừng thực nghiệm Núi Luốt, gần ngã tư thứ nhất.
Vỏ thân có nhiều sợi dai, dùng làm gậy tốt.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn