Cây gỗ lớn, có thể cao 25-30m, đường kính trên 90cm. Thân thẳng, phân cành cao. Vỏ màu xám nâu, vết vỏ đẽo chảy nhựa nâu đen. Cành nhỏ khi khô màu tím nâu.Lá kép lông chim lẻ, 9-13 lá chét. Lá chét hình trái xoan thuôn, đầu nhọn gấp có mũi lồi ngắn, đuôi gần tròn, lệch rõ rệt; phiến lá dài 6-17cm, rộng 2-7,5cm, ròn, mặt trên nhẵn, gân cấp hai 8-11 đôi. Mép lá nguyên. Không có lá kèm.Hoa tự hình xim viên chùy, ở nách lá gần đầu cành thường dài hơn. Hoa đơn tính cùng gốc, hoa nhỏ dài 6-7mm, hoa đực có ống đài xẻ thùy nông, nhị 6 hợp gốc, hoa cái có ống đài nguyên, chỉ nhị hợp trên nửa chiều dài, triền hoa hình cốc.Quả hình trái xoan dài, dài 3-4cm, rộng 1,7-2cm, hai đầu gần tròn, khi chín màu tím đen. Hạt 1-3 trong một hạch.
Cây mọc nhanh. Mùa hoa tháng 4-5, quả chín tháng 8-11. Cây ưa sáng, thượng mọc ở nơi có nhiệt độ bình quân năm 22 độ C, tháng lạnh nhất 13 độ C, lượng mưa hàng năm từ 1500-2000mm, độ ẩm 80%, không chịu được sương muối giá rét. Yêu cầu đối với đất không khắt khe, thường thích hợp với đất sét pha tầng dầy, hơi chua, pH = 4,5-5,0.Có khả năng tái sinh hạt tốt dưới tàn che 0,4-0,5.
Cây phân bố tự nhiên ở Nam Trung Quốc, các nước Đông Dương. Ở Việt Nam thường mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh ở tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên, Phú Thọ.
Gỗ màu nâu vàng, dễ làm có thể dùng trong xây dựng, đóng đồ dùng thông thường. Quả chín làm thức ăn. Hạt ép dầu ăn và đánh bóng. Quả và rễ có thể làm thuốc chữa bệnh.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn